15/04/2026
Ở đâu có nông dân, ở đó có khuyến nông.
 
Mô hình khuyến nông, nông nghiệp hiệu quả
Hiệu quả mô hình nuôi chồn hương – Hướng đi tiềm năng tận dụng thời gian nhàn rỗi trong chuyển đổi vật nuôi
 70
 10/04/2026
Ảnh: Nuôi Chồn hương nâng cao thu nhập

Ảnh: Nuôi Chồn hương nâng cao thu nhập

Từ vài con giống đến đàn hơn 100 con: Mô hình nuôi chồn hương mở hướng làm giàu mới

Trong những năm gần đây, mô hình nuôi chồn hương (Chồn hương có tên đầy đủ và khoa học là Viverricula indica, thuộc họ Cầy (Viverridae)) đang được nhiều hộ nông dân trên địa bàn quan tâm và phát triển, bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế tích cực. Đây được xem là hướng đi phù hợp trong chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, góp phần đa dạng hóa sinh kế, tận dụng thời gian nhàn rỗi nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn.

Theo ghi nhận thực tế, chồn hương là loài vật nuôi có khả năng thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, môi trường tại địa phương. Vật nuôi này có sức đề kháng khá, ít mắc bệnh nếu được chăm sóc đúng kỹ thuật. Nguồn thức ăn tương đối phong phú, có thể tận dụng các loại trái cây sẵn có như chuối, đu đủ, kết hợp với cá, thịt và phụ phẩm nông nghiệp, giúp giảm chi phí chăn nuôi, phù hợp với quy mô hộ gia đình.

Tại địa phương, mô hình của anh Nguyễn Thanh Phong, xã Hỏa Lựu, thành phố Cần Thơ là một điển hình. Hiện nay, tổng đàn chồn hương của gia đình đạt trên 100 con, được chăm sóc, quản lý theo hướng bài bản. Nhờ áp dụng đúng kỹ thuật và chủ động nguồn thức ăn, mô hình không chỉ duy trì ổn định mà còn mang lại thu nhập khá, trở thành hướng phát triển kinh tế hiệu quả của gia đình.

Theo anh Phong chia sẽ: Qua quá trình tìm tòi, học hỏi kinh nghiệm, đến nay đàn chồn của gia đình sinh trưởng và phát triển ổn định, tỷ lệ sống cao. Sau khoảng 8–10 tháng nuôi, chồn bắt đầu sinh sản, mỗi năm từ 1–2 lứa, mỗi lứa trung bình 2–4 con. Việc nhân đàn tương đối thuận lợi, góp phần gia tăng hiệu quả kinh tế theo thời gian. Hiện nay, giá chồn giống dao động từ khoảng 8–9 triệu đồng/cặp, tùy theo độ tuổi và chất lượng con giống; trong khi chồn thương phẩm (chồn thịt) có giá khoảng 1,4 triệu đồng/kg. Với mức giá này, thị trường tiêu thụ được đánh giá tương đối ổn định, mang lại nguồn thu đáng kể cho người chăn nuôi.

Thực tế cho thấy, với quy mô nuôi từ 10–20 con đã có thể mang lại lợi nhuận, trong khi các mô hình quy mô lớn hơn như của anh Phong càng cho thấy tiềm năng mở rộng và phát triển. Sau khi trừ chi phí con giống, thức ăn, chuồng trại và công chăm sóc, nhiều hộ dân có thu nhập cao hơn so với một số mô hình chăn nuôi truyền thống. Bên cạnh đó, mô hình không đòi hỏi diện tích lớn, có thể tận dụng không gian vườn nhà và dễ dàng mở rộng khi có điều kiện.

Tuy nhiên, để mô hình nuôi chồn hương đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững, người chăn nuôi cần đặc biệt lưu ý các yếu tố kỹ thuật. Chuồng trại phải đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ, mỗi con nuôi riêng để tránh cắn nhau; đồng thời cần bố trí nơi yên tĩnh, hạn chế ánh sáng mạnh do chồn có tập tính hoạt động về đêm. Thức ăn phải đảm bảo tươi, sạch, không ôi thiu, cho ăn vào chiều tối để phù hợp tập tính sinh học. Bên cạnh đó, cần thường xuyên vệ sinh chuồng trại, giữ nền khô ráo, định kỳ tẩy ký sinh trùng và theo dõi sức khỏe đàn chồn để kịp thời xử lý khi có dấu hiệu bất thường. Việc lựa chọn con giống khỏe mạnh, không khai thác sinh sản quá mức cũng là yếu tố quan trọng giúp nâng cao tỷ lệ sống và hiệu quả chăn nuôi.

Có thể khẳng định, mô hình nuôi chồn hương là hướng phát triển tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp hiện nay. Với ưu điểm phù hợp điều kiện hộ gia đình, chi phí đầu tư không quá lớn và khả năng sinh lời khá, mô hình đang mở ra cơ hội nâng cao thu nhập cho người dân.

Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần tổ chức sản xuất theo hướng bài bản, tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật, áp dụng đúng kỹ thuật chăn nuôi và tăng cường liên kết tiêu thụ. Khi hội đủ các yếu tố này, mô hình nuôi chồn hương sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng hiệu quả và bền vững.

Chồn hương thuộc Nhóm IIB – động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại theo quy định tại Nghị định 06/2019/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 84/2021/NĐ-CP.

Do đó, tổ chức, cá nhân gây nuôi phải đăng ký với cơ quan kiểm lâm địa phương, đảm bảo con giống có nguồn gốc hợp pháp, thực hiện ghi chép, theo dõi đàn và chứng minh nguồn gốc khi mua bán, vận chuyển.

Việc tuân thủ đầy đủ các quy định giúp hạn chế rủi ro pháp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi trong tiêu thụ và phát triển mô hình bền vững.

 

Hồng Quyên - Phòng Khuyến nông, TTKNDVNN

Ý kiến bạn đọc

Tin mới cập nhật

 

Video Khuyến nông